Hợp tác xã Chè Hảo Đạt
SHOWROOM TRIỂN LÃM 3D
THƯ VIỆN ẢNH - VIDEO
THƯ VIỆN ẢNH - VIDEO
THÔNG TIN GIỚI THIỆU
Chè Tân Cương Thái Nguyên
Ở Việt Nam, mỗi tỉnh thường có một thứ cây đặc sản riêng: “Dừa ngon Bình Ðịnh, Vĩnh Long; Thanh trà xứ Huế, Nhãn lồng Hưng Yên”, còn Thái Nguyên tự hào vì có chè Tân Cương nổi tiếng.Trước đây, khách du lịch dừng lại Tân Cương trên hành trình đi hồ Núi Cốc, còn hôm nay, tự Tân Cương đã là một điểm đến hấp dẫn.
Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 13km về phía Tây, Tân Cương là vùng đất bán sơn địa, cảnh quan thiên nhiên đẹp mắt với những dãy đồi thoai thoải về hướng mặt trời lặn mà dân địa phương gọi là núi Thằn Lằn. Bắt nguồn từ những cánh rừng trên núi, các con suối róc rách men theo những chân đồi chảy về tưới mát cả vùng chè đặc sản nổi tiếng.
Nơi đây đồi nối tiếp đồi, chè nối tiếp chè, hương chè tươi nồng nàn trong không gian. Người dân vùng chè mê mải với công việc thường nhật, từ động tác hái chè những ngón tay như múa, từ cách thức sao vò chè như thể làm ảo thuật. Cũng vì sự khéo léo đầy tính nghệ thuật đó mà nhiều người đã được tôn vinh là nghệ nhân.
Nguồn gốc
“Chè” và “Trà” là hai thứ khác nhau. Một chỉ nguyên liệu, một chỉ thành phẩm.
Cây chè (Camellia Sinensis) vốn là một giống cây hoang dại trong những cánh rừng phía Nam lục địa châu Á, trải từ Ấn Độ, Sri Lanka sang Việt Nam, Trung Quốc. Những cây chè cổ ở Suối Giàng (Lào Cai) hay Cao Bồ (Hà Giang) thuộc giống chè shan tuyết cao khoảng 15 – 20m, thường mọc ở những độ cao trên 1.200m, khi hái phải bắc thang. Năm 1935, các lái buôn người Anh còn bắt gặp những cây chè như thế ở vùng Assam, Đông – Bắc Ấn Độ cao đến hơn 30m. Trung Quốc có lẽ là nước uống trà vào loại hàng đầu thế giới, vậy mà đặc biệt người ta không tìm thấy cây trà hoang nào ở nước này.
Nhân loại thuần dưỡng giống cây quý này đã hàng ngàn năm. Trong các thức uống được ưa chuộng, “trà” (Tea/Thé) là một thế giới.
Không như rượu và cà phê, trà không chỉ là thức uống mà còn được xem như một dược thảo. Người Nhật gắn trà với thiền cùng nhiều nghi lễ giúp cân bằng tiết tấu cuộc sống nội tâm. Người Trung Hoa coi trà là một trong những lạc thú thanh cao dành cho tao nhân mặc khách. Có lẽ vì vậy mà họ đã chế tác ra rất nhiều loại trà danh tiếng truyền thụ từ nhiều đời. Tác phẩm thành văn bàn về trà, cổ nhất có lẽ là “Trà kinh” của Lục Vũ đời Đường, người được tôn vinh là “Trà thần”, cũng như “Trà ca” của Lô Đồng, người được đời sau xưng tụng là “Trà thánh”.
Ở Việt Nam, người đầu tiên, và đến nay có lẽ là duy nhất, luận về trà một cách công phu chưa thấy ai ngoài Vũ Thế Ngọc trong cuốn Trà kinh của mình (East Institute Press. California 1987 & NXB Văn Nghệ – 2006).
“Đệ nhất danh trà”
Gọi là chè Thái Nguyên nhưng chất lượng chè không phải vùng nào cũng giống nhau. Đã từ lâu, giới thưởng trà truyền tụng về một địa danh thường cung cấp loại trà nổi tiếng – trà Tân Cương. Người dân Tân Cương bảo rằng cây chè có ở đất này đã từ lâu lắm rồi, nhưng mới trở thành đặc sản lừng danh khoảng trăm năm nay nhờ ông Ðội Năm (tên thật là Võ Văn Thiệt) tới vùng này khai phá mở đồn điền trồng chè và chế biến thành những gói chè Bạch Hạc đem bán khắp nơi. Ẩm khách sành điệu rất ưa dùng và tôn vinh là “Ðệ nhất danh trà”, được lưu truyền từng là sản vật để tiến vua. Vườn chè cổ vẫn còn, nay đã 87 tuổi.
Mỗi gia đình ở Tân Cương đều có vườn chè và lò sấy, chủ hộ đóng rất nhiều vai: là nông dân khi chăm sóc chè, là công nhân lúc chế biến và trở thành thương nhân khi bán hàng. Thường thì việc hái chè dành cho những cô gái trẻ. Khắp đồi chè lan tỏa tiếng nói, tiếng hát, tiếng cười trong vắt của họ.
Chè là một loại cây cực kỳ khó tính và rất nhạy cảm. Ngay cả một cây xoan (sầu đông – sầu đâu) mọc ở trong vườn sẽ làm cho hương vị của những cây chè dưới gốc đã khác. Người Tân Cương bón chè bằng phân vi sinh, thuốc đuổi sâu chế biến từ cây khổ sâm. Chè phải được hái từ tinh sương đến giữa Ngọ. Dụng cụ đựng chè phải bằng sọt tre, hái khoảng nửa giờ phải mang chè vào lán. Chè đựng bằng bao ni lông và phơi nắng lâu rất dễ bị ôi chè, phẩm cấp giảm. Khi sao chè, kỵ nhất là mùi nước hoa, đặc biệt mùi dầu cù là.
Hái búp chè cũng phải đúng cách “một tôm hai lá, một cá hai chừa” để lấy được đúng phần ngon nhất của búp chè và tạo điều kiện cho lứa sau phát triển nhanh, nhiều búp hơn. Sau khi thu hái, chè búp tươi phải được tải trong bóng râm chừng 3 giờ đồng hồ rồi mới đem chế biến thì chè sẽ cho hương vị tuyệt hảo. Đây là kinh nghiệm quý được đúc kết qua nhiều đời làm chè.
Búp chè hái về phải chế biến ngay trong ngày theo đúng quy trình kỹ thuật truyền thống: Sao, vò, rồi lại sao mà phải làm liên tục, gọi là sao suốt. Qua bàn tay đảo búp chè cảm nhận độ nóng rồi điều chỉnh lửa thích hợp trong quá trình sao là bí quyết riêng của mỗi nhà sản xuất chè để được chè ngon; rồi sàng sảy phân loại chè cám, chè ban, chè búp; lấy hương… rất nhọc nhằn, công phu. Trước đây sao chè bằng chảo gang và củi, lấy hương bằng chảo đồng cho sản phẩm chè ngon nhất nhưng năng suất chế biến thấp, sao giỏi chỉ được 5kg/ngày, một lò sao lăn được 2kg/giờ. Nay, việc sao vò chè đã có máy móc hiện đại, rút ngắn thời gian chế biến. Nhưng, dù theo cách nào, chè ngon hay dở đều phụ thuộc phần lớn vào việc điều chỉnh lửa.
Khi chế biến chè, người nông dân đã thực sự trở thành nghệ nhân. Sự nhạy cảm của các ngón tay mách bảo họ khi nào chè cần tăng nhiệt, khi nào phải rút bớt củi, quá lửa chè sẽ khét còn không đủ nhiệt, chè có vị ngái rất khó uống. Nhiều nghệ nhân cho biết chỉ cần nghe tiếng cánh chè chuyển động trong lò sấy đã có thể biết độ nóng của lò. Dù họ không giấu nghề, tận tình hướng dẫn từng động tác nhưng khách không dám đến sát lò lửa chứ đừng nói đến chuyện đảo vò chè bằng tay trần trong lò nóng bỏng. Nhiệt độ có thể lên tới 1800C nhưng người Tân Cương cha truyền con nối bí quyết cảm nhận độ nóng qua bàn tay.
Chè búp loại này cánh săn nhỏ và cong như cái móc câu, có mầu “mốc” đặc trưng. Khi pha, thả búp chè vào ấm sành sứ cứ nghe tiếng roong roong. Ðể một dúm chè trong lòng bàn tay hà hơi vào đã thấy mùi thơm ngầy ngậy; nhai thử vài cánh chè cảm nhận được vị bùi, chát, ngọt đậm đà; nhả bã lấy ngón tay cái và ngón trỏ bóp, vặn thử thấy nước và bã xanh rờn như chè tươi, đấy là loại tốt. Có thể ướp chè búp với hoa sói, hoa ngâu, hoa nhài, hoa sen… để tạo thêm những hương thơm khác nhau tùy sở thích mỗi người nhưng việc ướp cũng phải tuân thủ những quy định công phu, nếu không có kinh nghiệm sẽ làm giảm hương vị tự nhiên của chè.
Những nghệ nhân nơi đây cho biết, chè ngon trong năm là chè thu hoạch vụ Xuân, mùi hương cốm chè Tân Cương không nơi nào học được. Để có được một ký chè Tân Cương thứ thiệt quả là không dễ. Ai đã thử qua trà shan tuyết Suối Giàng, shan tuyết Cao Bồ, Hà Giang, thậm chí sang Hàng Châu uống thử trà Long Tỉnh, trà Ninh Ba, Ô Long – Đài Loan cũng phải công nhận rằng, trà Tân Cương quả thực “danh bất hư truyền”.
Đến thăm “đất tổ” của chè Tân Cương, du khách được chiêm ngưỡng bãi chè cổ tại xóm Lam Sơn, ngay dưới chân núi Guộc, trên mỗi gốc cây sần sùi già cỗi là vòm tán rộng hàng sải tay với ngàn ngàn búp non tua tủa. Nghe người già kể về nguồn gốc vùng chè đặc sản quý hiếm này, được thưởng trà giữa không gian khoáng đạt trong lành, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn hương vị thiên nhiên được kết tụ trong mỗi búp chè Tân Cương./.
Lịch sử
Hợp tác xã Chè Hảo Đạt có địa chỉ trụ sở chính tại xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã số: 4601326405 do Phòng Tài chính – Kế hoạch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên cấp lần đầu ngày 28 tháng 12 năm 2016.
Được thành lập năm 2016 (tiền thân là Tổ hợp tác sản xuất kinh doanh chè Hảo Đạt), đến nay HTX Chè Hảo Đạt (HTX) có 30 thành viên, với vùng chè nguyên liệu hơn 10ha; HTX đã áp dụng quy trình sản xuất nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình quản lý chất lượng tiên tiến, như: VietGAP, QRcode; hệ thống nhà xưởng có tổng diện tích trên 2.000m2, dây chuyền sản xuất khép kín, được tự động hóa 70%, công suất từ 4,0 – 4,5 tấn chè búp tươi/ngày. Bình quân mỗi năm, HTX chế biến được 1.500 tấn chè búp tươi, cung cấp ra thị trường từ 250 – 350 tấn chè búp khô an toàn, chất lượng cao, với các dòng sản phẩm chính như: Chè Đinh, chè Tôm nõn, chè Móc câu, chè Bát Tiên,… với giá bán dao động từ 250.000 đồng/kg đến 2.500.000 đồng/kg.
Ngoài việc trưng bày giới thiệu, bán sản phẩm ngay tại nơi sản xuất, giới thiệu, quảng bá trên các trang website, HTX còn đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại như: tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh. Các dòng sản phẩm chè Hảo Đạt đã khẳng định uy tín thương hiệu ở thị trường trong nước và một số nước như: Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan,… bởi chất lượng cao, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Hiện nay, HTX có 3 sản phẩm chính gồm: Chè Móc câu, chè Tôm nõn, chè Đinh được xếp hạng đạt 04 sao OCOP, trong đó sản phẩm chè Tôm nõn là 01/20 sản phẩm đã được hội đồng đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP cấp quốc gia đề xuất công nhận đạt 5 sao.
Doanh thu của của HTX tăng trưởng hằng năm, năm 2020 đạt trên 7 tỷ đồng, tạo việc làm thường xuyên cho 30 lao động với mức thu nhập bình quân từ 4,5 – 7,0 triệu đồng/người/tháng và khoảng 25-30 lao động thời vụ. Ngoài ra, HTX còn thường xuyên giúp đỡ các hộ dân trong xã về vốn, kiến thức khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm trồng, chăm sóc, chế biến chè đặc sản.
Không dừng lại ở sản xuất, chế biến các sản phẩm trà, HTX đang hướng đến việc phát huy thương hiệu chè Tân Cương đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể Chè Thái Nguyên; cùng với địa điểm thuận tiện ở trên tuyến đường vào khu du lịch quốc gia Hồ Núi Cốc, HTX đang tích cực phát triển nhóm sản phẩm thứ 6 là dịch vụ du lịch nông thôn, bán hàng trong chương trình: “Mỗi xã một sản phẩm”, phấn đấu đạt 3 nội dung của bộ tiêu chí: đánh giá sản phẩm và sức mạnh cộng đồng; khả năng tiếp thị sản phẩm và chất lượng sản phẩm đảm bảo phát triển bền vững cho điểm du lịch nông thôn của HTX: xây dựng khu không gian văn hóa trà rộng rãi tại điểm dừng nghỉ của HTX, khu chế biến hiện đại, chế biến chè thủ công: nhà thưởng thức trà, khu đóng gói thành phẩm, sao chè thủ công, khu sinh hoạt cộng đồng, nhà chế biến và trưng bày sản phẩm.
Trải qua hơn 5 năm thành lập và phát triển, HTX đã góp một phần phát triển công nghiệp ở vùng nông thôn theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động tại địa phương góp phần ổn định an ninh, kinh tế và chính trị trên địa bàn hoạt động.
Đây không chỉ là niềm vui, đồng thời là động lực phát triển trong thời gian tới của Ban Lãnh đạo cũng như toàn thể cán bộ, người lao động HTX khi những cố gắng làm việc để làm ra những sản phẩm chất lượng nhất đã nhận được phản hồi tích cực, phục vụ cho sức khỏe người Việt theo sứ mệnh “ Kiến tạo cuộc sống ngày một tươi đẹp hơn”.
Giải thưởng / chứng chỉ
Sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp Quốc gia năm 2021
Hình ảnh




Mô tả
Sản phẩm đạt giải: Chè Tôm nõn
Chứng nhận sản phẩm OCOP quốc gia
Hình ảnh




















